Thứ Ba, 23 tháng 10, 2012

KHỞI KIỆN BUỘC CTY HOÀNG HẢI CẤP CNQSDĐ CHO NGƯỜI MUA ĐẤT

Theo chúng tôi được biết, qua công văn số 5563/SXD-PTN ngày 31/7/2012 do ông Nguyễn Tấn Bền, Giám đốc Sở Xây dựng ký, kiến nghị Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh :
Tại Mục 4. Kiến nghị Uỷ ban nhân dân thành phố :
4.1. Chấp thuận chủ trương. giải pháp khắc phục các vi phạm xây dựng theo đề xuất của Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn tại các công văn số 1035/UBND ngày 04/7/2012 và số 195/UBND ngày 20/02/2012. Giao Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn khẩn trương kiểm tra rà soát các vi phạm xây dựng, xác định thời điểm xây dựng của từng trường hợp cụ thể, đề xuất hướng xử lý:
- Đối với các công trình (tại 03 dự án khu nhà ở) vi phạm xây dựng trên đất công viên cây xanh, đường giao thông phải kiên quyết xử lý tháo gỡ, thực hiện đúng theo quy hoạch được phê duyệt;
- Đối với các công trình nhà ở vi phạm xây dựng: như sai thiết kế nhà mẫu, xây dựng không đúng kích thước, khoảng lùi, tầng cao nhưng phù hợp chức năng quy hoạch chi tiết xây dựng được tồn tại theo hiện trạng;
- Đối với các trường hợp  nhà - đất đã nhận chuyển nhượng từ Công ty Cổ phần Đầu tư Kinh doanh nhà Hoàng Hải trước đây, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp lệ : cho phép các hộ dân được xây dựng; được giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

* Như thế, Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn và các Sở, Ban ngành hữu quan đã có chủ trương cho phép Công ty Hoàng Hải được tiếp tục hoạt động để thực hiện hoàn chỉnh các hạng mục công trình  và làm thủ tục giao đất cho các khách hàng đã mua đất của Công ty tại 03 dự án được thành phố giao đất. 
- Muốn tiếp tục hoạt động lại Công ty Hoàng Hải phải chủ động lập văn bản gởi Uỷ ban nhân dân huyện để xin phép.
* Nhưng qua cuộc họp ngày 16/10/2012 được tổ chức tại văn phòng công ty tại ấp Tiền Lân xã Bà Điểm huyện Hóc Môn. Ông Ngô Quang Thiêm chỉ trả lời lòng vòng, đề nghị bà con cho công ty có thời gian để khắc phục, ông cho biết công ty cũng không còn khả năng tài chánh để thực hiện. Và ông đổ thừa là công ty muốn khắc phục nhưng nhiều lần làm đơn nhưng huyện không giải quyết. Thât là mâu thuẩn ! Trong khi huyện và các ban ngành hữu quan yêu cầu công ty tiếp tục hoàn chỉnh các hạng muc tại 03 dự án được giao đất nhưng công ty lại xin tiếp tục được giao đất tại 04 khu đất nông nghiệp. Nên không được Uy ban huyện giải quyết là đúng.
Theo nhận định của chúng tôi : Về mặt tài chánh, công ty Hoàng Hải cũng còn có khả năng để thực hiện hoàn thiện các hạng mục công trình tại 03 dự án được giao đất. Nhưng công ty Hoàng Hải không muốn làm vì các lý do sau :
1/- Lợi dụng thông báo số 225/TB-UBND ngày 22/7/2012 do Chủ tịch huyện Hóc Môn, bà Văn Thị Bạch Tuyết ký, nội dung: Thông báo tạm ngưng giải quyết thủ tục cấp phép xâ dựng, chuyển nhượng nền đất trong 03 dự án xây dựng khu dân cư, 04 khu phân lô hộ lẻ và 04 khu đất nông nghiệp.
2/- Bỏ tiền ra đầu tư nhưng không thấy thu lại lợi nhuận gì trong biết rằng Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn và các ban ngành hữu quan đã đề xuất UBND thành phố không tiếp tục giao đất cho công ty nữa.
3/- Nắm được tâm lý người mua đất sợ thưa kiện dẩn đến công ty phá sản sẽ bị mất đất. Và khởi kiện ra Toà thì mất nhiều thời gian và trước mắt phải đóng án phí 5% trên giá trị hợp đồng nên khách hàng chùn bước.
4/- Thay vì tiền bỏ ra khắc phục hậu thì gởi ngân hàng hàng tháng thu lãi là tốt nhất trong khi đó dân đâu có ai kiện cáo gì đâu mà lo.

* Nếu để cho Công ty Hoàng Hải tự giác khắc phục hậu quả tại các dự án được giao đất chắc không bao giờ sảy ra. Nhà - đất trong các dự án được giao đất chắc chắn là không bị mất. Nhưng chúng ta không thể thực hiện được các quyền lợi : Không được hợp thức hoá nhà, không được chuyển hộ khẩu đến, không được xây dựng và không được phép chuyển nhượng.
* Do đó, chúng tôi kêu gọi bà con hảy mạnh dạn, đoàn kết để bảo vệ mình, cùng nhau gởi Đơn khiếu kiện yêu cầu Công ty Hoàng Hải phải thực hiện hợp đồng đã ký kết. Và nếu công ty không còn khả năng tài chính để thực hiện thì họp nhau kiện ra Toà án thành phố yêu cầu mở thục phá sản đối với Công ty Hoàng Hải.
Qua các bài viết trên Blogs và những tin tức mà tôi cập nhật bà con nên theo dỏi và học tập kinh nghiệm đấu tranh từ các dự án khác.

Liên hệ với Mr Lộc 0982 746199  hay gởi mail : hhloc2000@gmail.com; để được hướng dẩn thủ tục Khiếu kiện.

Hữu Lộc

Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2012

Xoá quy hoạch treo, dự án treo Đã đền bù hơn 50%, dự án vẫn có thể “trùm mền”


SGTT.VN - Sở Xây dựng kiến nghị UBND TP.HCM gia hạn cho những dự án đã bồi thường được 50% nhưng chậm triển khai. Tuy nhiên, ghi nhận từ thực tế, với chính sách, tình hình thị trường và khả năng vốn liếng như hiện nay thì dù có được gia hạn, những dự án bị “trùm mền” này cũng khó có thể đẩy nhanh tiến độ.
Người dân phường 28 nằm trong bán đảo Thanh Đa, quận Bình Thạnh, TP.HCM sống trong cảnh bị quy hoạch treo ngót nghét 20 năm. Ảnh: Đoàn Quý

Dự án khu cao ốc văn phòng và căn hộ chung cư Waseco Plaza (số 10 Phổ Quang, Tân Bình) do công ty cổ phần đầu tư xây dựng và cấp thoát nước Waseco làm chủ đầu tư là một minh chứng. Dự án được phê duyệt đầu tư từ năm 2008, quy định thời gian phải hoàn thành là năm 2011. Tuy nhiên, hiện nay công trình mới hoàn thành được 5% khối lượng. Hiện chủ đầu tư đang liên hệ với sở Tài chính thẩm định giá trị quyền sử dụng đất bổ sung cho phù hợp với quy hoạch, nhằm tiến hành các bước tiếp theo để cấu trúc lại dự án đầu tư. Theo nhận định của đoàn khảo sát sở Quy hoạch – kiến trúc, dù dự án đã trễ một năm nhưng chủ đầu tư khó có thể triển khai thực hiện bởi các lý do: chủ đầu tư thiếu vốn, khó tiếp cận với ngân hàng do lãi suất cao, tình hình thị trường bất động sản đóng băng…
Dự án khu dân cư Bà Điểm do công ty cổ phần An Thịnh làm chủ đầu tư được quy định thời gian thực hiện từ tháng 6.2009 – 12.2010. Tuy nhiên, hiện nay công trình mới hoàn thành giai đoạn 1 về hạ tầng kỹ thuật (đạt 80%). Chủ đầu tư cho rằng sẽ hoàn thành vào năm 2013. Tuy nhiên, qua khảo sát dự án, đoàn công tác cho rằng, tiến độ dự án công trình chậm so với kế hoạch, không đảm bảo đúng tiến độ đề ra (chậm ba năm). Mặc dù hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh nhưng chủ đầu tư vẫn chưa hoàn thiện công trình, do chưa huy động được vốn từ khách hàng. Chủ đầu tư thừa nhận, do thiếu vốn nên không có khả năng thực hiện tiếp công tác bồi thường giải phóng mặt bằng giai đoạn tiếp theo.
Dự án chung cư Võ Đình (phường Thới An, quận 12) do công ty TNHH xây dựng Võ Đình làm chủ đầu tư. Khi thẩm định dự án, sở Xây dựng TP.HCM quy định thời gian hoàn thành là vào năm 2010. Tuy nhiên, hiện nay đã trễ hẹn gần hai năm nhưng dự án vẫn chưa được hoàn thành.
Điểm danh một vòng các dự án được phê duyệt tại các quận huyện trên địa bàn thành phố thì quận/huyện nào cũng có dự án chưa triển khai hoặc ngưng thi công. Cụ thể, quận 4 có 37 dự án thì có tới 12 dự án chưa triển khai hoặc ngưng thi công; tương tự, quận 8 có 2/98 dự án; quận 6 có 19/29 dự án; huyện Cần Giờ có 2/4 dự án; huyện Bình Chánh có sáu dự án đến nay vẫn chưa triển khai bồi thường và 19 dự án đang thoả thuận bồi thường…
Trong chính sách hỗ trợ các dự án nhà ở, sở Xây dựng TP.HCM đã có kiến nghị UBND thành phố gia hạn đối với những dự án đã bồi thường cho dân được 50%, nhưng bị ngưng thi công bởi các lý do khác. Tuy nhiên, theo ông Lê Hoàng Châu, chủ tịch hiệp hội Bất động sản thành phố, thì những dự án đã bồi thường 50%, thậm chí 80% dù có được gia hạn thì với những chính sách hiện nay, những dự án này cũng khó có thể thực hiện được theo tiến độ. Bởi, doanh nghiệp không thể thương lượng giá đền bù đối với phần diện tích còn lại do người dân đòi giá đền bù quá cao.
Bên cạnh đó, theo ông Nguyễn Thanh Toàn, phó giám đốc sở Quy hoạch – kiến trúc TP.HCM, hiện nay các cơ quan có thẩm quyền chưa có giải pháp tích cực nhằm giúp doanh nghiệp sớm hoàn thành công tác đền bù cho toàn bộ diện tích dự án, với các phương án xử lý như: doanh nghiệp phải bồi thường bằng mức giá cao nhất đã thực hiện bồi thường trước đây trong dự án; thuê công ty thẩm định giá bồi thường để doanh nghiệp thực hiện; nếu doanh nghiệp và người có đất không thoả thuận thì đưa ra toà án để quyết định ra giá bồi thường…
Tùng Quang
“Điều đó là rất khó”
Theo các nhà đầu tư, hiện nay nhà nước không có cơ chế chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thu hồi đất, đền bù thực hiện dự án (kể cả dự án kinh doanh) khi tỷ lệ đền bù mà các doanh nghiệp đã thực hiện đạt khoảng 80 – 90% nhằm đẩy nhanh tiến độ, tiết giảm chi phí. Do đó, dự án không thể triển khai thi công xây dựng do chưa hoàn tất công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Mặt khác, giá đất người dân đòi cao gấp 3 – 4 lần so với giá bồi thường thành công của dự án. Do đó, dự án không thể hoàn tất công tác bồi thường, hoàn tất các thủ tục đầu tư và triển khai thi công xây dựng. Một chính sách tối ưu khác của nhà nước nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhưng cũng khó khả thi là chính sách gia hạn tiền sử dụng đất cho doanh nghiệp bất động sản. Hiện nay, doanh nghiệp muốn được gia hạn tiền sử dụng đất thì trước hết phải chấp nhận phương án đóng tiền sử dụng đất của sở tài chính. Tiếp đến, doanh nghiệp phải có đủ ba điều kiện khắt khe của cơ của cơ quan nhà nước. Theo ông Châu, điều đó là rất khó…!
Nguồn : sgtt.vn

Đề nghị quy định xử lý tài sản bất minh


TT - Ngày 19-10, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đã tổ chức hội thảo “Những vấn đề cấp thiết cần sửa đổi của dự án Luật phòng chống tham nhũng”.
Ngày 20-8-2010, TAND TP.HCM đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Khỏe - nguyên chủ tịch UBND huyện Hóc Môn - 26 năm tù về ba tội danh: nhận hối lộ (17 năm tù), lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ (7 năm tù) và lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (2 năm tù) - Ảnh: MINH ĐỨC

Quy định hiện hành của pháp luật phòng chống tham nhũng chỉ buộc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại cơ quan, đơn vị, tổ chức mà đối tượng kê khai làm việc thường xuyên, không yêu cầu giải trình nguồn gốc tài sản cũng như không đề cập việc xử lý tài sản bất minh.
Các ý kiến tại hội thảo trên đều khẳng định nếu dự luật trình Quốc hội tới đây không xử lý triệt để vấn đề minh bạch tài sản, thu nhập thì khó có thể tạo được bước tiến cho cuộc đấu tranh này.
Trông chờ vào sự trung thực
Các ý kiến tại hội thảo này sẽ được cơ quan thẩm tra dự án luật là Ủy ban Tư pháp tiếp thu, trình Quốc hội xem xét. Dự kiến dự án Luật phòng chống tham nhũng (sửa đổi) sẽ được Quốc hội xem xét, thông qua ngay tại kỳ họp thứ 4 tới đây.

Ông Lê Văn Lân - phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng - cho rằng với các quy định hiện hành thì sự minh bạch trong các bản kê khai tài sản của cán bộ, công chức trông chờ vào sự trung thực của người kê khai. “Vì không yêu cầu phải giải trình nguồn gốc tài sản nên những người thuộc diện kê khai cứ yên tâm kê khai. Dự thảo luật (sửa đổi) có đưa ra quy định về giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm (tối thiểu 100 triệu đồng). Tuy nhiên, quy định này chỉ áp dụng cho người kê khai bổ sung, còn người kê khai lần đầu dù tài sản có giá trị đến bao nhiêu cũng không phải giải trình nguồn gốc, đây chính là một sơ hở” - ông Lân bình luận.
Đã thế, theo quy định hiện hành, bản kê khai tài sản, thu nhập chỉ được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đối tượng kê khai thường xuyên làm việc, hình thức công khai chỉ là thông báo tại cuộc họp hoặc niêm yết tại cơ quan. Như vậy phạm vi công khai, hình thức công khai rất hạn hẹp.
Trong khi đó, luật hiện hành chỉ quy định xác minh tài sản trong trường hợp “xét thấy cần thiết” đối với đối tượng là người trong danh sách bầu cử, đang được xem xét bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật và những đối tượng có hành vi tham nhũng. Số còn lại (chiếm đa số) vẫn có thể yên tâm vì không thuộc diện phải xác minh. Dự luật (sửa đổi) có mở rộng quy định nhưng vẫn chứa đựng tinh thần hạn chế việc xác minh tài sản (vì yêu cầu tố cáo, phản ánh phải có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có căn cứ để xác minh; người tố cáo, phản ánh phải cam kết hợp tác, cung cấp đầy đủ tài liệu liên quan...); đồng thời việc có xác minh hay không vẫn hoàn toàn phụ thuộc ý chí chủ quan của người tiếp nhận tố cáo. “Đã có bằng chứng rõ ràng rồi thì cần gì cơ quan có thẩm quyền xác minh nữa. Quy định như vậy sẽ gây khó cho người tố cáo” - ông Lân bình luận.
GS.TS, thiếu tướng Nguyễn Ngọc Anh - vụ trưởng Vụ Pháp chế Bộ Công an - cho biết việc minh bạch tài sản, thu nhập là một nội dung trong Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng, nhưng việc thực hiện quả là không dễ dàng. “Đối với VN hiện nay thì kiểm soát tài sản, thu nhập rất khó. Người ta có thể khai là tôi có cái này, cái kia là bố mẹ để lại, của bạn gái tặng, thậm chí có người sử dụng xe sang nhưng khi hỏi thì bảo đó là xe mượn của em vợ, nhưng điều hài hước là ông em vợ đó thậm chí còn chưa biết lái xe...” - tướng Anh nói.
Tịch thu tài sản không giải trình được nguồn gốc
"Có những tài sản không hề nhỏ như chiếc thẻ chơi gofl hàng chục ngàn USD, vốn góp vào doanh nghiệp... thì dường như không thấy kê khai. Có tình trạng tài sản thực chất của mình nhưng để người thân đứng tên vì nhà cửa, đất đai, bất động sản hiện nay chúng ta chưa thể kiểm soát được"
Ông Lê Văn Lân (phó chánh văn phòng Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng)

“Cần có quy định về việc giải trình nguồn gốc tài sản kê khai lần đầu và giải trình tài sản tăng thêm khi kê khai bổ sung. Đối với những trường hợp không giải trình được nguồn gốc tài sản một cách hợp lý thì bị xử lý cả người và tài sản” - ông Lê Văn Lân kiến nghị. Ông cũng bày tỏ sự đáng tiếc khi dự thảo luật chưa thể hiện đúng tinh thần Hội nghị trung ương 5 là phải sửa đổi Luật phòng chống tham nhũng theo hướng bản kê khai tài sản phải được công khai tại nơi làm việc, nơi cư trú.
Ông Trần Văn Đạt - Vụ pháp luật chung, Bộ Tư pháp - cũng khẳng định “việc tịch thu tài sản bất minh là vấn đề cực kỳ quan trọng của pháp luật phòng chống tham nhũng nhưng lại chưa thấy dự luật đề cập đến”.
Dẫn chiếu quy định của nước ngoài, vị chuyên gia cho biết: pháp luật hình sự Trung Quốc quy định bất cứ công chức nào có tài sản vượt quá thu nhập và số lượng chênh lệch quá lớn thì bắt buộc phải giải trình nguồn gốc tài sản đó. Nếu công chức không chứng minh được tài sản đó hợp pháp sẽ bị kết án 5 năm tù và phần tài sản vượt quá mức thu nhập sẽ bị tịch thu. Luật chống tham nhũng của Singapore cho phép tòa án tịch thu bất cứ khoản tiền và tài sản nào của một công chức nếu họ không giải thích được nguồn gốc.
Chủ trì cuộc hội thảo, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền khẳng định “quy định về minh bạch tài sản là vấn đề có tính then chốt trong phòng chống tham nhũng, bởi nếu không giải quyết được thì mọi vấn đề khác sẽ mang tính hình thức”. Là một trong những người góp phần xây dựng dự thảo Luật phòng chống tham nhũng 2005, ông Quyền thừa nhận các quy định về công khai, xác minh tài sản, thu nhập khi ấy được quan niệm khá đơn giản và... ngây ngô.
“Một vụ án dân sự có khi thành lập cả hội đồng xác minh tài sản hàng chục năm trời vẫn chưa kết luận được nó là tài sản của ai, trong khi một bản kê khai có vấn đề thì chỉ giao cho một đồng chí làm công tác tổ chức cán bộ trong cơ quan đi xác minh” - ông Quyền nói.
LÊ KIÊN
Nguồn : tuoitre.vn





Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

Người mua BĐS tung đủ 'chiêu' kiện chủ đầu tư


Dự án chậm tiến độ, người mua nhà "đứng ngồi không yên" vì tiền tỷ đã đóng cho chủ đầu tư. Để đòi quyền lợi, họ buộc phải tìm mọi cách để chủ đầu tư chịu nhượng bộ.
Từ bàn cách đối lý
Mới đây, hàng trăm khách hàng mua nhà tại dự án Spendora buộc phải tụ tập nhau lại, treo băng rôn biểu ngữ trước trung tâm bán hàng dự án để buộc chủ đầu tư phải đối thoại trực tiếp. Bà Nguyễn Thị Thái, đại diện khách hàng cho hay, thời gian dài vừa qua, bà có những khúc mắc về hợp đồng và tiến độ nhưng tìm đủ cách không thể gặp được người đứng đầu của dự án. Bà cũng như không ít khách hàng khác liên tục gửi đơn thư, chuyển phát thanh đến trụ sở công ty mà không nhận được hồi âm.
Cực chẳng đã, bà buộc lòng rủ những người có cùng cảnh ngộ với mình kéo đến dự án đòi quyền lợi. Trước sức ép của khách hàng, đại diện chủ đầu tư đã buộc phải tổ chức một buổi gặp. Kết quả khiếu nại của khách hàng trong buổi gặp đó chưa biết sẽ được chủ đầu tư giải quyết ra sao, nhưng bước đầu phía khách hàng tỏ ra hoan hỉ.
Biểu tình treo biểu ngữ trước trụ sở của chủ đầu tư đang là cách được khách hàng nhiều dự án áp dụng. Với những tấm băng rôn cỡ lớn, cùng sự có mặt của hàng trăm người không chỉ gây chú ý cho chủ đầu tư mà còn thu hút cả dư luận, báo chí vào cuộc. Không chủ đầu tư nào muốn điều này xảy ra bởi uy tín của dự án sẽ bị ảnh hưởng lớn.
Khách hàng mua nhà tại dự án Spendora yêu cầu gặp trực tiếp chủ đầu tư dự án để đối thoại.

Không còn đơn lẻ vài người, khách hàng mua dự án đang tìm cách kết nối với nhau tạo thành một cộng đồng mạnh để áp đảo chủ đầu tư. Trên các trang diễn đàn, hàng chục hội người mua nhà được lập ra để kêu gọi sự ủng hộ. Hoạt động khá bài bản, những topic này quy tụ được hàng trăm người mua cùng cảnh ngộ. Hàng ngày mọi người cập nhật liên tục và chia sẻ với nhau các thông tin liên quan như "sức khỏe" của chủ đầu tư, tình trạng của dự án... Lý do các diễn đàn này sôi nổi, đa phần người dân đều quá bận rộn nên khó có thể gặp gỡ trực tiếp nên việc lập forum để trao đổi, cùng nhau đóng góp ý kiến sẽ giúp tiết kiệm được thời gian, chí phí họp hành.
Sau đó là những cuộc họp offline bên ngoài tìm cách đối phó với chủ đầu tư. Điểm chung ở những hội này là đều bầu ra một ban đại diện khách hàng để làm việc với chủ đầu tư và có cả kinh phí cho các hoạt động. Mọi đường đi nước bước để làm việc với chủ đầu tư đều được ban đại diện bàn bạc tính kỹ với thành viên để tìm ra hướng giải quyết tốt nhất.
Chị Thái - đại diện một nhóm khách hàng tại dự án Spendora, chia sẻ, để có kết quả tốt với chủ đầu tư, nhóm chị cũng đã kêu gọi được gần 50 khách hàng. Lúc đầu, để tìm được những người có cùng hoàn cảnh không phải là điều dễ dàng nhưng nhờ sự hỗ trợ từ Internet cơ hội kết nối nhiều hơn, mọi người có cùng hoàn cảnh dễ tìm đến với nhau. Danh sách khách hàng mua dự án này tham gia nhóm ngày càng nhiều. Tuy nhiên, theo chị Thái, để đấu tranh giành quyền lợi cần phải thời gian dài.
Tận dụng công nghệ, khách hàng mua chung cư tại dự án ở Trung Văn còn lập cả blog để tố chủ đầu tư chèn ép dân. Hàng chục bài viết xung quanh dự án đã được đăng tải, cùng với đó là hàng nghìn comment của các thành viên. Quản lý blog này cho hay, đây là cách mọi người dễ tìm đến với nhau, mỗi ngày có gần 200 lượt các thành viên truy cập. Họ tập hơn được gần 80 người mua căn hộ, lần lượt đến gặp chủ đầu tư, lập biên bản làm việc, rồi kéo đến ép đơn vị bán hàng phải nộp tiền để họ được nhận nhà.
Bài diễn văn của blog được viết một cách hóm hỉnh: "Các ông bà sẽ tìm gặp giám đốc công ty Hạ Long ư? Điện thoại của anh ấy sẽ tắt máy, hoặc anh ấy trả lời đang bận cuộc họp, hoặc anh ấy nói hãy liên hệ với phòng kinh doanh của tôi. Các ông bà sẽ tìm đến văn phòng công ty Hạ Long ư? Cô em lễ tân xinh xắn sẽ mời ông bà cốc nước mát và trả lời giám đốc của em đang đi công tác nước ngoài... Vậy là các ông bà cứ tiếp tục chờ đợi. Không còn cách nào khác, các ông bà cần phải đoàn kết hợp sức với nhau lại... để gây áp lực... thì chúng ta mới có thể sớm nhận được căn nhà đầy mồ hôi nước mắt của gia đình mình".
Treo băng rôn, biểu tình là cách người mua nhà thường làm để đối phó với chủ đầu tư chậm triển khai dự án (ảnh Dân trí)

Để việc đấu tranh được bài bản, bloger này còn đề nghị trước mắt cần thành lập một tiểu ban liên lạc, mỗi tầng một đại diện, là đại diện ở gần khu đô thị, làm nghề liên quan đến bảo vệ pháp luật như luật sư, công an, công tố viên, thẩm phán, thanh tra; công tác trong các cơ quan truyền thông, báo chí, ngân hàng... để cùng đối phó với chủ đầu tư.
Tới đưa nhau ra tòa
Đàm phán với chủ đầu tư không thành công, cuối cùng, khách hàng buộc phải kiện họ ra tòa. Điển hình, vụ bán nhà trên giấy, khách hàng dự án The Montana (quận Tân Phú, TP.HCM) đã buộc lòng phải kiện chủ đầu tư ra tòa. Đơn kiện yêu cầu chủ đầu tư là công ty cổ phần Thương mại - Dịch vụ may mặc - XNK Ngân Thanh phải trả lại tiền gốc và lãi cho khách hàng. Chủ đầu tư dự án trên cũng đã bị đề nghị xử phạt về hành vi bán nhà khi chưa thi công xong phần móng.
Trước đó, cuối năm 2009, nhiều khách hàng đã góp vốn mua căn hộ tại dự án căn hộ cao cấp The Montana do công ty Ngân Thanh làm chủ đầu tư với tổng số tiền gần 6 tỷ đồng. Dự án sau đó ngừng triển khai. Công ty này đã trả lại cho khách hàng gần 1 tỷ, rồi không trả tiếp như đã hứa hẹn.
Tương tự, TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) đang thụ lý đơn của khách hàng khởi kiện chủ đầu tư dự án căn hộ Royal là Công ty TNHH Tân Hoàng Thân.
Mâu thuẫn về lợi ích kéo dài, quyền lợi người mua nhà bị ảnh hưởng khiến họ buộc lòng phải kiện cáo với chủ đầu tư. Không phải ai cũng mong muốn điều này xảy ra, anh Đinh Văn Lập, khách hàng mua nhà một dự án ở Hà Đông cho hay, bất đắc dĩ mới phải đấu tranh, anh và những người mua dự án này đã nhiều lần gửi đơn thư khiếu kiện tới chủ đầu tư cùng các cơ quan chức năng nhưng không được giải quyết thỏa đáng. Cuối cùng, đành phải tập hợp nhau lại để cùng bày tỏ tiếng nói chung trong đấu tranh với chủ đầu tư.
Luật sư Vũ Hùng cho hay, khi quyền lợi người mua nhà bị ảnh hưởng, họ đã làm việc với chủ đầu tư bài bản hơn trước, từ việc kêu gọi những người cùng cảnh, viết đơn kiến nghị, thuê luật sư tư vấn, và nhờ cả báo chí vào cuộc. Ông Hùng cho hay, đa số các vụ tranh chấp đều là dân sự, nên có kiện ra tòa, những vụ kiện loại này nhanh nhất cũng phải mất 1-2 năm và có khi còn kéo dài hơn. Các tranh chấp, mâu thuẫn về quyền lợi giữa khách hàng và chủ đầu tư dự án thường lớn, thiệt hại lên đến hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng, do đó, việc giải quyết không hề đơn giản.
Theo ông Đỗ Quang Huy, sàn bất động sản Hapulico, việc đòi được tiền gốc đã khó nên chuyện tính lời lãi với chủ đầu tư là điều khó có thể thành. Ông Huy ví von, mua nhà bằng hợp đồng góp vốn cũng như một loại cổ phiếu nhưng có nhiều giấy tờ hơn, ngân hàng mổ xẻ trước sau đó tới cổ đông, còn người mua nhà cũng như những người cùng đầu tư khi đã ký hợp đồng xem như người cùng thuyền.
"Nước nổi thuyền nổi, gặp cơn sóng cả, người lái thuyền kinh nghiệm mới qua, không qua thì cả nhà xuống nước", ông Huy cho hay.
Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội BĐS TP.HCM, nhận định, việc khách hàng thành lập cộng đồng người mua để đấu tranh nếu vì mục tiêu chính đáng, tuân thủ đúng luật phát thì nên hoan nghênh. Hội này sẽ đoàn kết khách hàng lại, tạo nên sức mạnh để đấu tranh đòi quyền lợi cho mình. Theo ông Châu, tình huống kiện tụng chỉ là giải pháp bất đắc dĩ cuối cùng nếu chủ đầu tư thiếu thiện chí hợp tác.
Duy Anh
Nguồn : vietnamNet.vn

* Thưa bà con Cộng đồng dân cư Hoàng Hải, 2 năm vừa qua, chúng ta đã phí rất nhiều thời gian để bảo vệ sự tồn tại của Công ty Hoàng Hải. Và bằng ấy thời gian từ khi có Kết luận thanh tra số 338 của Thanh tra thành phố ngày 23/6/2010 và gần đây nhất là văn bản số : 5563/SXD-PTN ngày 31/7/2012 Giám đốc Sở Xây dựng cũng yêu cầu Công ty Hoàng Hải:
          Đối với trách nhiệm của Công ty Cổ phần Đầu tư Kinh doanh nhà Hoàng Hải :
          + Phải nghiêm chỉnh thực hiện dự án đúng quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500 đã được phê duyệt; chủ động có biện pháp khắc phục các vi phạm xây dựng trình Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn và các sở ngành liên quan để thực hiện khắc phục; khẩn trương tiếp tục thực hiện hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của dự án. Tổ chức nghiệm thu, kiểm định chứng nhận phù hợp về chất lượng công trình xây dựng để bàn giao cho cơ quan chức năng tiếp nhận quản lý theo quy định pháp luật.
            + Phải chấm dứt việc chuyển nhượng nền cho khách hàng đất tại 04 khu đất nông nghiệp. Chủ động thoả thuận với khách hàng để hoán đổi hoặc có biện pháp giải quyết bồi thường thiệt hại đối với số nền đã bán tại 04 khu đất nông nghiệp theo quy định pháp luật.
Ngay bây giờ, chúng ta hảy đoàn kết cùng nhau làm đơn thưa Công ty Hoàng Hải với tội danh "lừa đảo chiếm đoạt tài sản", đồng loạt gởi đơn thưa, càng đông người hiệu quả càng cao. Kết hợp với băng rôn biểu ngữ "ĐỀ NGHỊ KHỞI TỐ CTY HOÀNG HẢI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN" mong chính quyền địa phương "BẮT NGAY CTY HOÀNG HẢI, TRẢ TIỀN LỪA ĐẢO LẠI CHO NGƯỜI DÂN" nếu chính quyền không giải quyết bắt Cty Hoàng Hải đưa ra xét xử là tiếp tay với công ty Hoàng Hải v . v . "CHÍNH QUYỀN NÊN BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI DÂN"  "ĐỪNG TIẾP TAY CHO CTY HOÀNG HẢI TIẾP TỤC LỪA DÂN"
Tôi nghỉ rằng công việc khởi kiện tiến hành càng sớm càng tốt, mong bà con hảy nổ lực đấu tranh đừng để kẻ lừa đảo ung dung ngoài vòng pháp luật.
Hữu Lộc


LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Nhận được thông tin qua báo Tuổi trẻ, chúng tôi đã tìm văn bản  "LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC" để bà con Khu dân cư Hoàng Hải tham khảo và thực hiện quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật.
Hữu Lộc


QUỐC HỘI
------
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------
Số: 35/2009/QH12
Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2009


LUẬT
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
CỦA QUỐC HỘI KHOÁ XII, KỲ HỌP THỨ 5
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Luật này quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.
Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần (sau đây gọi chung là người bị thiệt hại) trong các trường hợp quy định tại Luật này thì được Nhà nước bồi thường.
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án.
2. Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn không đúng quy định của pháp luật và được xác định trong văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
4. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại hoặc cơ quan khác theo quy định của Luật này.
1. Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này.
2. Trong quá trình khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hoặc Toà án giải quyết việc bồi thường.
1. Thời hiệu yêu cầu bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật này là 02 năm, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này.
2. Thời hiệu yêu cầu bồi thường quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này được xác định theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
3. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, giải quyết vụ án hành chính đã xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và có thiệt hại thực tế mà việc bồi thường chưa được giải quyết thì thời hiệu yêu cầu bồi thường được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều này.
1. Việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án phải có các căn cứ sau đây:
a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại các điều 13, 28, 38 và 39 của Luật này;
b) Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra đối với người bị thiệt hại.
2. Việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự phải có các căn cứ sau đây:
a) Có bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này;
b) Có thiệt hại thực tế do người tiến hành tố tụng hình sự gây ra đối với người bị thiệt hại.
3. Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra trong các trường hợp sau đây:
a) Do lỗi của người bị thiệt hại;
b) Người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật trong quá trình giải quyết vụ việc;
c) Do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết.
Việc giải quyết bồi thường phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:
1. Kịp thời, công khai, đúng pháp luật;
2. Được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường với người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ;
3. Được trả một lần bằng tiền, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Tiếp nhận, thụ lý đơn yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại;
2. Xác minh thiệt hại, thương lượng với người bị thiệt hại, ra quyết định giải quyết bồi thường;
3. Tham gia tố tụng tại Toà án với tư cách là bị đơn trong trường hợp người bị thiệt hại khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường;
4. Thực hiện việc chi trả cho người bị thiệt hại và quyết toán kinh phí bồi thường;
5. Yêu cầu người thi hành công vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại;
6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo;
7. Khôi phục hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại;
8. Báo cáo việc giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật.
1. Người bị thiệt hại có quyền sau đây:
a) Yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự theo quy định của Luật này;
b) Được cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc Tòa án giải quyết và thông báo việc giải quyết bồi thường;
c) Khiếu nại, tố cáo quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo;
d) Khiếu nại, kháng cáo bản án, quyết định của Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng;
đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Người bị thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu giải quyết bồi thường;
b) Chứng minh về thiệt hại thực tế đã xảy ra.
1. Người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại có quyền sau đây:
a) Được nhận các quyết định liên quan đến việc giải quyết bồi thường;
b) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện quyết định, hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong việc giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật;
c) Quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại có nghĩa vụ sau đây:
a) Cung cấp kịp thời, đầy đủ và trung thực thông tin, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết bồi thường theo yêu cầu của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc Tòa án;
b) Hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
c) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
1. Chính phủ có trách nhiệm sau đây:
a) Thống nhất quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án;
b) Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quản lý công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng;
c) Ban hành theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;
d) Hàng năm, thống kê, tổng kết việc thực hiện bồi thường; báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về công tác bồi thường khi có yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản này.
2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường; hàng năm, báo cáo Bộ Tư pháp về công tác bồi thường của bộ, ngành, địa phương mình.
3. Bộ Tài chính có trách nhiệm xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về việc sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước về bồi thường.
4. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quản lý công tác bồi thường và phối hợp với Chính phủ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường; hàng năm, thông báo cho Bộ Tư pháp về công tác bồi thường của ngành mình.
5. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.
1. Giả mạo hồ sơ, tài liệu, giấy tờ để được bồi thường.
2. Thông đồng giữa người bị thiệt hại, người có trách nhiệm giải quyết bồi thường và người có liên quan để trục lợi trong việc bồi thường.
3. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết bồi thường.
4. Không giải quyết bồi thường hoặc giải quyết bồi thường trái pháp luật.
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:
1. Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
2. Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;
3. Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác;
4. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh;
5. Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép;
6. Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất;
7. Áp dụng thủ tục hải quan;
8. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
9. Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
10. Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ;
11. Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;
12. Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định.
1. Cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
2. Ngoài trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường được xác định như sau:
a) Trường hợp cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
b) Trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại thời điểm gây ra thiệt hại;
c) Trường hợp có sự uỷ quyền hoặc uỷ thác thực hiện công vụ thì cơ quan uỷ quyền hoặc cơ quan uỷ thác là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp cơ quan được ủy quyền, cơ quan nhận ủy thác thực hiện không đúng nội dung ủy quyền, ủy thác gây thiệt hại thì cơ quan này là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
d) Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm chính trong vụ việc là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
đ) Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc cơ quan trung ương và cơ quan địa phương cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan trung ương là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
1. Cá nhân, tổ chức khi cho rằng mình bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra thì có quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xem xét, kết luận hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.
2. Trong thời hạn do pháp luật về khiếu nại, tố cáo quy định, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại phải xem xét, kết luận bằng văn bản về hành vi trái pháp luật hoặc không trái pháp luật của người thi hành công vụ.
3. Thủ tục xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Trong quyết định giải quyết khiếu nại phải xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại.
1. Khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc các trường hợp quy định tại Điều 13 của Luật này thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 14 của Luật này.
2. Đơn yêu cầu bồi thường có các nội dung chính sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;
b) Lý do yêu cầu bồi thường;
c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.
3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.
1. Khi nhận hồ sơ yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải kiểm tra và xác định tính hợp lệ của đơn và các giấy tờ kèm theo; trường hợp hồ sơ không đầy đủ thì hướng dẫn người bị thiệt hại bổ sung.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn và các giấy tờ hợp lệ, nếu xác định yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã nhận hồ sơ phải thụ lý và thông báo bằng văn bản về việc thụ lý đơn cho người bị thiệt hại; trường hợp yêu cầu bồi thường không thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ phải trả lại hồ sơ và hướng dẫn người bị thiệt hại gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường.
1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại để làm căn cứ xác định mức bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại có thể kéo dài nhưng không quá 40 ngày.
2. Căn cứ vào tính chất, nội dung của vụ việc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thể tổ chức việc định giá tài sản, giám định thiệt hại về tài sản, giám định thiệt hại về sức khoẻ hoặc lấy ý kiến của các cơ quan có liên quan về việc giải quyết bồi thường. Chi phí định giá, giám định được bảo đảm từ ngân sách nhà nước.
3. Trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả định giá, giám định mà yêu cầu định giá, giám định lại và được cơ quan có trách nhiệm bồi thường đồng ý thì chi phí định giá, giám định lại do người bị thiệt hại chi trả, trừ trường hợp kết quả định giá, giám định chứng minh yêu cầu định giá, giám định lại là có căn cứ.
1. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải tổ chức và chủ trì thương lượng với người bị thiệt hại về việc giải quyết bồi thường; trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày.
2. Thành phần thương lượng gồm đại diện cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ. Trong trường hợp cần thiết, người thi hành công vụ gây ra thiệt hại được mời tham gia vào việc thương lượng.
Đại diện của cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải là người có thẩm quyền để thỏa thuận việc bồi thường với người bị thiệt hại và chịu trách nhiệm trước cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
3. Địa điểm thương lượng là trụ sở của cơ quan có trách nhiệm bồi thường hoặc trụ sở của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị thiệt hại cư trú, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
4. Việc thương lượng phải lập thành biên bản. Biên bản thương lượng phải ghi rõ những nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm tiến hành thương lượng;
b) Địa điểm thương lượng, thành phần tham gia thương lượng;
c) Ý kiến của các bên tham gia thương lượng;
d) Những nội dung thương lượng thành hoặc không thành.
Biên bản thương lượng phải có chữ ký của các bên và được gửi cho người bị thiệt hại một bản ngay sau khi kết thúc thương lượng.
5. Kết quả thương lượng là cơ sở để quyết định việc bồi thường.
1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc việc thương lượng, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải ra quyết định giải quyết bồi thường. Quyết định giải quyết bồi thường phải có các nội dung chính sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường;
b) Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường;
c) Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường;
d) Mức bồi thường;
đ) Quyền khởi kiện tại Toà án trong trường hợp không tán thành với quyết định giải quyết bồi thường;
e) Hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường.
2. Quyết định giải quyết bồi thường phải được gửi cho người bị thiệt hại, cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người thi hành công vụ gây ra thiệt hại.
Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định, trừ trường hợp người bị thiệt hại không đồng ý và khởi kiện ra Toà án.
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn ra quyết định giải quyết bồi thường quy định tại Điều 20 của Luật này mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không ra quyết định hoặc kể từ ngày người bị thiệt hại nhận được quyết định nhưng không đồng ý thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Toà án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 23 của Luật này để yêu cầu giải quyết bồi thường.
Trường hợp người bị thiệt hại chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể khởi kiện đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn khởi kiện quy định tại khoản này.
2. Người bị thiệt hại không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường trong trường hợp quyết định giải quyết bồi thường đã có hiệu lực pháp luật.
1. Toà án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường là Toà án nhân dân cấp huyện nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc, nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở, nơi thiệt hại xảy ra theo sự lựa chọn của người bị thiệt hại hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
2. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Toà án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
1. Trong quá trình khởi kiện vụ án hành chính mà người khởi kiện cho rằng, hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính thực hiện việc giải quyết bồi thường. Trong trường hợp này, đơn khởi kiện còn phải có các nội dung sau đây:
a) Yêu cầu xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ;
b) Nội dung yêu cầu bồi thường;
c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường;
d) Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu bồi thường.
2. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được áp dụng theo quy định của pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
1. Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính nếu có yêu cầu bồi thường thì bản án, quyết định của Tòa án còn phải có các nội dung sau đây:
a) Tóm tắt lý do yêu cầu bồi thường;
b) Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường;
c) Mức bồi thường;
d) Hình thức bồi thường.
2. Việc xác định trách nhiệm bồi thường và mức bồi thường được thực hiện theo quy định của Luật này.
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
1. Người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
2. Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
4. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;
6. Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
7. Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì được bồi thường.
1. Người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm.
3. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật này.
4. Người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm.
5. Người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng dân sự, tố tụng hành chính gây ra trong các trường hợp sau đây:
1. Tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
2. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu;
3. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức;
4. Ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án.
1. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự là cơ quan được quy định tại các điều 30, 31 và 32 của Luật này. Trường hợp cơ quan này đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc có sự uỷ thác thực hiện công vụ thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường được thực hiện theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 14 của Luật này.
2. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự phải bồi thường thiệt hại đã phát sinh trong các giai đoạn tố tụng trước đó.
Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp sau đây:
1. Đã ra quyết định tạm giữ người nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền đã có quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ đó vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;
2. Đã ra quyết định khởi tố bị can nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền không phê chuẩn quyết định khởi tố vì người bị khởi tố không thực hiện hành vi phạm tội.
Viện kiểm sát có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
1. Đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của cơ quan điều tra có thẩm quyền nhưng người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật;
2. Đã phê chuẩn lệnh tạm giam của cơ quan điều tra có thẩm quyền hoặc ra lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam mà sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
3. Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng sau đó có quyết định của cơ quan có thẩm quyền đình chỉ điều tra vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
4. Đã có quyết định truy tố bị can nhưng Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật;
5. Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;
6. Toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội và sau đó Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.
1. Toà án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
a) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án vì người đó không phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội hoặc huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội;
b) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
c) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;
d) Toà án cấp sơ thẩm tuyên bị cáo có tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.
2. Toà án cấp phúc thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:
a) Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
b) Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì không thực hiện hành vi phạm tội;
c) Toà án cấp phúc thẩm tuyên bị cáo có tội nhưng Toà án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án phúc thẩm để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.
3. Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:
a) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
b) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
c) Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án quân sự quân khu và tương đương để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.
4. Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự trung ương (sau đây gọi chung là Toà có thẩm quyền) xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm giữ nguyên bản án của Toà án cấp dưới tuyên bị cáo có tội trong các trường hợp sau đây:
a) Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao và đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
b) Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao để điều tra lại mà sau đó bị can được đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì người đó không thực hiện hành vi phạm tội;
c) Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao huỷ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa có thẩm quyền thuộc Toà án nhân dân tối cao để xét xử lại mà sau đó bị cáo được tuyên là không có tội vì không thực hiện hành vi phạm tội.
1. Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 28 của Luật này có trách nhiệm bồi thường.
2. Tòa án cấp sơ thẩm có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp ra bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 4 Điều 28 của Luật này mà bị huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
3. Tòa án cấp phúc thẩm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp ra bản án, quyết định phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 4 Điều 28 của Luật này mà bị huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
4. Tòa án xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 4 Điều 28 của Luật này mà bị huỷ theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
5. Trường hợp Toà án quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 14 của Luật này.
1. Khi nhận được bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này thì người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định sau đây:
a) Người bị thiệt hại do quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 30 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra đã ra quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố bị can;
b) Người bị thiệt hại do quyết định của Viện kiểm sát quy định tại Điều 31 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Viện kiểm sát đã ra quyết định đó;
c) Người bị thiệt hại do bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền quy định tại Điều 32 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Toà án đã ra bản án, quyết định đó.
2. Đơn yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự quy định tại khoản 1 Điều này có các nội dung chính sau đây:
a) Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;
b) Lý do yêu cầu bồi thường;
c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.
3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có bản án, quyết định xác định người đó thuộc một trong các trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.
1. Khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ có hành vi quy định tại Điều 28 của Luật này, người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định sau đây:
a) Người bị thiệt hại do Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 28 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Toà án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó;
b) Người bị thiệt hại do Toà án ra bản án, quyết định quy định tại khoản 4 Điều 28 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Toà án đã ra bản án, quyết định đó.
2. Đơn yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính quy định tại khoản 1 Điều này có các nội dung chính sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;
b) Lý do yêu cầu bồi thường;
c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.
3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.
Việc thụ lý, xác minh, thương lượng, ra quyết định giải quyết bồi thường và hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, dân sự, hành chính được áp dụng theo quy định tại các điều 17, 18, 19, 20 và 21 của Luật này.
Việc khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường, thẩm quyền và thủ tục giải quyết bồi thường tại Toà án trong hoạt động tố tụng được thực hiện theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Luật này.
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:
1. Ra hoặc cố ý không ra quyết định:
a) Thi hành án;
b) Thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án;
c) Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án;
d) Cưỡng chế thi hành án;
đ) Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án. e) Hoãn thi hành án;
g) Tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án;
h) Tiếp tục thi hành án.
2. Tổ chức thi hành hoặc cố ý không tổ chức thi hành quyết định quy định tại khoản 1 Điều này.
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:
1. Ra quyết định thi hành án tử hình đối với người có đủ điều kiện quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự;
2. Giam người quá thời hạn phải thi hành án phạt tù theo bản án, quyết định của Toà án;
3. Không thực hiện quyết định hoãn thi hành án đối với người bị kết án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù;
4. Không thực hiện quyết định giảm án tù, quyết định đặc xá, quyết định đại xá.
1. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự là trại giam, trại tạm giam, cơ quan quản lý nhà tạm giữ, cơ quan công an có thẩm quyền và Toà án ra quyết định thi hành án.
2. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự là cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại.
3. Trường hợp cơ quan quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan đó tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường hoặc có sự uỷ quyền, uỷ thác thực hiện công vụ thì việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường được thực hiện theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 14 của Luật này.
1. Khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ có hành vi quy định tại Điều 38 của Luật này, người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 40 của Luật này.
2. Đơn yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự có các nội dung chính sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;
b) Lý do yêu cầu bồi thường;
c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.
3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.
1. Khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 39 của Luật này, người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định sau đây:
a) Người bị giam quá thời hạn phải thi hành án theo bản án, quyết định của Toà án quy định tại khoản 2 Điều 39 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan quản lý nhà tạm giữ đã thực hiện việc giam quá thời hạn đó;
b) Người bị thiệt hại do không được thực hiện quyết định hoãn thi hành hình phạt tù, tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù, giảm án tù, đặc xá, đại xá quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 39 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan công an có thẩm quyền;
c) Thân nhân của người bị thiệt hại do quyết định thi hành án tử hình quy định tại khoản 1 Điều 39 của Luật này gửi đơn yêu cầu bồi thường đến Toà án có thẩm quyền ra quyết định đó.
2. Đơn yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án hình sự quy định tại khoản 1 Điều này có các nội dung chính sau đây:
a) Họ và tên, địa chỉ của người yêu cầu bồi thường thiệt hại;
b) Lý do yêu cầu bồi thường;
c) Thiệt hại và mức yêu cầu bồi thường.
3. Kèm theo đơn yêu cầu bồi thường phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường.
Việc thụ lý, xác minh, thương lượng, ra quyết định giải quyết bồi thường và hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án được áp dụng theo quy định tại các điều 17, 18, 19, 20 và 21 của Luật này.
Việc khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường, thẩm quyền và thủ tục giải quyết bồi thường tại Toà án trong hoạt động thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 22 và Điều 23 của Luật này.
1. Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ hao mòn của tài sản đã bị phát mại, bị mất trên thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường.
2. Trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết bồi thường để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất. Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm giải quyết bồi thường; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra; nếu tài sản bị kê biên được giao cho người bị thiệt hại hoặc người khác quản lý thì chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài sản được xác định là những thiệt hại được bồi thường.
4. Các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền được hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ; trường hợp khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cả khoản lãi hợp pháp; trường hợp khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì phải hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ cả khoản lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm giải quyết bồi thường.
1. Cá nhân, tổ chức có thu nhập mà xác định được thì được bồi thường theo thu nhập thực tế bị mất.
2. Trường hợp cá nhân có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức bồi thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra.
3. Cá nhân có thu nhập không ổn định và không có cơ sở xác định cụ thể hoặc thu nhập có tính chất thời vụ thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương. Trường hợp không xác định được thu nhập trung bình thì tiền bồi thường được xác định theo mức lương tối thiểu chung đối với cơ quan nhà nước tại thời điểm giải quyết bồi thường (sau đây gọi chung là lương tối thiểu).
1. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong thời gian bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được xác định là hai ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.
2. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là ba ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù.
3. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là ba trăm sáu mươi tháng lương tối thiểu.
4. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng không quá ba mươi tháng lương tối thiểu.
5. Thiệt hại do tổn thất về tinh thần trong trường hợp bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà không bị tạm giữ, tạm giam được xác định là một ngày lương tối thiểu cho một ngày bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo. Thời gian để tính bồi thường thiệt hại được xác định kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người đó thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại khoản 3 Điều 26 của Luật này.
1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết.
2. Chi phí cho việc mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
3. Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Tiền cấp dưỡng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại.
2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại theo quy định tại Điều 46 của Luật này.
3. Chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
4. Trong trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại được bồi thường bao gồm chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoản cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Khoản cấp dưỡng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu phải được trả lại ngay khi quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị hủy bỏ.
1. Người bị thiệt hại quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 26 của Luật này hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu khôi phục danh dự trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật.
2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu bằng văn bản về việc khôi phục danh dự của người bị thiệt hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan có trách nhiệm bồi thường đã thụ lý vụ việc phải thực hiện việc xin lỗi, cải chính công khai.
3. Việc xin lỗi, cải chính công khai được thực hiện bằng các hình thức sau đây:
a) Trực tiếp xin lỗi, cải chính công khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị thiệt hại có sự tham dự của đại diện chính quyền địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú, đại diện của cơ quan nơi người bị thiệt hại làm việc, đại diện của một tổ chức chính trị - xã hội mà người bị thiệt hại là thành viên;
b) Đăng trên một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương trong ba số liên tiếp theo yêu cầu của người bị thiệt hại hoặc đại diện hợp pháp của họ.
4. Trường hợp người bị thiệt hại chết, thân nhân của họ có quyền yêu cầu khôi phục danh dự.
1. Trường hợp cơ quan trung ương có trách nhiệm bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách trung ương.
2. Trường hợp cơ quan địa phương có trách nhiệm bồi thường thì kinh phí bồi thường được bảo đảm từ ngân sách địa phương.
Hàng năm, căn cứ thực tế bồi thường của năm trước, cơ quan tài chính các cấp phối hợp với cơ quan, đơn vị cùng cấp lập dự toán kinh phí bồi thường để tổng hợp vào dự toán ngân sách cấp mình, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và được phân bổ cho cơ quan, đơn vị khi có yêu cầu chi trả tiền bồi thường.
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày bản án, quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải chuyển ngay hồ sơ đề nghị bồi thường đến cơ quan tài chính cùng cấp; trường hợp là cơ quan hưởng kinh phí từ ngân sách trung ương thì chuyển hồ sơ đến cơ quan quản lý cấp trên.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan nhận được hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ đề nghị bồi thường để cấp kinh phí hoặc có văn bản gửi cơ quan tài chính cùng cấp đề nghị cấp kinh phí bồi thường; trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì hướng dẫn cơ quan có trách nhiệm bồi thường bổ sung hồ sơ hoặc sửa đổi, bổ sung quyết định giải quyết bồi thường. Thời hạn bổ sung hồ sơ không quá 15 ngày.
2. Hồ sơ đề nghị bồi thường gồm:
a) Văn bản đề nghị cấp kinh phí bồi thường có ghi đầy đủ, cụ thể về người được bồi thường, các khoản tiền bồi thường đối với các thiệt hại cụ thể và tổng số tiền đề nghị được cấp để thực hiện việc bồi thường;
b) Bản sao văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ;
c) Bản án, quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan có thẩm quyền có hiệu lực pháp luật.
3. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị bồi thường hợp lệ thì cơ quan tài chính có thẩm quyền cấp kinh phí cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường để chi trả cho người bị thiệt hại.
4. Sau khi nhận được kinh phí do cơ quan tài chính cấp, trong thời hạn 05 ngày làm việc, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thực hiện việc chi trả bồi thường cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của người bị thiệt hại.
5. Trường hợp bản án, quyết định giải quyết bồi thường của Toà án có hiệu lực pháp luật mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường không tự nguyện thi hành thì người được bồi thường có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
Kết thúc năm ngân sách, các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm bồi thường lập quyết toán kinh phí đã chi trả bồi thường, tổng hợp chung trong quyết toán ngân sách hàng năm của cơ quan, đơn vị gửi cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
1. Người thi hành công vụ có lỗi gây ra thiệt hại có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân sách nhà nước một khoản tiền mà Nhà nước đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Người thi hành công vụ có lỗi vô ý gây ra thiệt hại quy định tại Điều 26 của Luật này không phải chịu trách nhiệm hoàn trả.
3. Người thi hành công vụ ngoài việc phải hoàn trả khoản tiền quy định tại khoản 1 Điều này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm còn phải bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
1. Căn cứ xác định mức hoàn trả bao gồm: a) Mức độ lỗi của người thi hành công vụ; b) Mức độ thiệt hại đã gây ra;
c) Điều kiện kinh tế của người thi hành công vụ.
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc xác định mức hoàn trả của người thi hành công vụ.
2. Trường hợp nhiều người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì những người đó có nghĩa vụ liên đới hoàn trả; cơ quan có trách nhiệm bồi thường chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý những người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thống nhất xác định mức hoàn trả cho từng cá nhân có nghĩa vụ hoàn trả.
1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày đã thực hiện xong việc chi trả tiền bồi thường, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải thành lập Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả để xác định trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả đối với người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.
Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan khác nhau gây ra thiệt hại thì Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả phải có sự tham gia của đại diện các cơ quan liên quan để xác định trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả đối với từng người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc thành lập, thành phần, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày đã thực hiện xong việc chi trả tiền bồi thường, người có thẩm quyền quy định tại Điều 59 của Luật này phải ban hành quyết định hoàn trả. Quyết định hoàn trả phải được gửi đến người có nghĩa vụ hoàn trả, cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
1. Thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường có thẩm quyền ra quyết định hoàn trả.
2. Trong trường hợp thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm bồi thường là người có nghĩa vụ hoàn trả thì thủ trưởng cơ quan cấp trên trực tiếp của người đó có thẩm quyền ra quyết định hoàn trả.
Trường hợp người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả không đồng ý với quyết định hoàn trả thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định hoàn trả theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
1. Quyết định hoàn trả có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký nếu người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại không có khiếu nại hoặc khởi kiện đối với quyết định này.
2. Căn cứ vào quyết định hoàn trả đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện việc thu số tiền phải hoàn trả và nộp vào ngân sách nhà nước.
1. Việc hoàn trả có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần.
2. Trường hợp việc hoàn trả được thực hiện bằng cách trừ dần vào lương hàng tháng của người thi hành công vụ thì mức tối thiểu không dưới 10% và tối đa không quá 30% thu nhập từ tiền lương hàng tháng.
Cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải nộp đầy đủ, kịp thời toàn bộ khoản tiền hoàn trả vào ngân sách nhà nước. Việc quản lý, sử dụng tiền hoàn trả thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
1. Khi thực hiện quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của Nhà nước theo quy định của Luật này, người bị thiệt hại không phải nộp lệ phí, án phí và các loại phí khác.
2. Không thu thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản tiền bồi thường mà người bị thiệt hại được nhận.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010.
2. Các văn bản quy phạm pháp luật sau đây hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật này có hiệu lực:
a) Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra và các văn bản hướng dẫn thi hành;
b) Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra và các văn bản hướng dẫn thi hành.
1. Các trường hợp yêu cầu bồi thường đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thụ lý nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết theo Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra hoặc Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật đó để giải quyết.
2. Các trường hợp được bồi thường theo Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra và Nghị định số 47/CP ngày 03 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra đến thời điểm Luật này có hiệu lực mà còn thời hiệu theo quy định của các văn bản này nhưng chưa yêu cầu Nhà nước bồi thường hoặc đã yêu cầu nhưng chưa được thụ lý thì áp dụng các quy định của Luật này để giải quyết.
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009.


CHỦ TỊCH QUỐC HỘI




Nguyễn Phú Trọng